Jan 24

Xôi lá dứa

Xôi lá dứa

 

Cuối năm nhớ còn nợ thầy Mùi cách nấu xôi Gấc nên giờ tính sổ cho xong để qua năm mới không nợ nần gì ai hết nha!
Sẵn đây kèm luôn cách nấu xôi Lá Dứa rất dễ làm.

XÔI LÁ DỨA:
– 2 cups nếp ngâm qua đêm, để ráo nước cho vô nồi cơm điện
– 1 cup nước cốt dừa
– 1 cup dừa nạo
– 1/2 muỗng cafe muối
( nếu muốn xanh đậm thì cho màu lá dứa còn không thì mua 1,2 bó về xắt nhỏ cho chút nước vô máy sinh tố xay nhuyễn rồi lọc lấy nước trộn vô nếp)
* Cách nấu: cho nếp, muối, 2 muỗng dừa nạo, 1 cup cốt dừa xóc đều rồi cho vô nồi cơm điện nấu chín xới lên, đơm xôi ra dĩa rắc dừa nạo, muối mè đường.

Anh Nguyễn Huỳnh

Photo credirs: unknown

Jan 24

Xôi vò

Alô. …Alô. ..mấy o ơi vô đây mà coi

Món gì mà thiệt thơm ngon nì
Lần đầu thử làm xôi vò theo ý mình thích : không khô (mắc cổ 😉), không ngọt. Cám ơn o Nguyễn rất nhiều đã chỉ cách nấu đậu xanh trong microwave. Thiệt ra thì đây là xôi đậu xanh bột nhưng kêu “xôi vò” cho xôm tụ với thiên hạ 😄. Tại học trò không theo đúng bài của Thầy chỉ. Trò trộn bột đậu xanh vô nếp, rồi nấu trong nồi cơm điện trước. Rồi mới bỏ vô microwave 2 phút nữa cho chín tiếp thôi.

Thục Khanh Nguyễn

Jan 23

Chúc Tết 2017

Chúc Tết 2017 by Lê Anh Dũng

Chúc Tết 2016 by Lê Anh Dũng:

Jan 23

Ẩm thực Việt Nam: bánh hỏi

Ẩm thực Việt Nam: bánh hỏi…

Bánh hỏi là một món ăn đặc sản có rất nhiều ở Vũng Tàu, Bến Tre, Phú Yên, Nha Trang, Bình Định của Việt Nam. Bánh được làm từ bột gạo và có quy trình chế biến công phu, tỉ mỉ. Ăn cho ngon thì bánh hỏi phải có thêm mỡ hành … đây là món ăn không thể thiếu trong những dịp lễ, cúng giỗ, cưới hỏi, lễ cúng ở đình, chùa của người dân và là một nét văn hóa ẩm thực của địa phương.

Các món bánh hỏi thường được biết đến như : bánh hỏi heo quay, bánh hỏi nem nướng, bánh hỏi tôm càng nướng, bánh hỏi lòng heo, bánh hỏi chạo bò, bánh hỏi chạo tôm… nhưng các bạn có biết không, món ăn bánh hỏi mà nước mắm tỏi ớt hay mắm nêm không ngon thì mất đi 40% sức hấp dẫn đó các bạn…

Ngoài ra, để làm cho món bánh hỏi thêm hương vị thì phần rau quả cũng phải đầy đủ như: xà lách, rau tía tô, rau vấp cá, rau quế, rau hún nhũi, chuối chát, giá, đồ chua, mít luộc và nhất là những món nướng như chạo bò, nem nướng thì nên có thêm thơm (dứa) thì bắt mồi không đã thì thôi….

Mà các bạn đừng quên là khi ăn món bánh hỏi thì nên có chút bia uống cho giải cái khát nha… Chúc các bạn thiệt là thèm để mà ăn thật là ngon miệng với gia đình và người thân trong các dịp cơm năm 2017.

January 8th, 2017

Trần tử Lành

Photo credits: unknown

Jan 23

Việt Nam đất nước tôi: Pháo Tết

Việt nam đất nước tôi: Pháo Tết

Những ngày Tết Nguyên Đán, ngoài các chậu bông mai – lan – cúc – trúc, các món ăn thuần túy: bánh tét, bánh chưng, giò thủ, củ kiệu, tôm khô, trà rượu, thì pháo là một trong những “thứ” mà thiếu thì Tết không trọn vẹn…

Theo Lành tìm kiếm lục lọi thì pháo có nguồn từ Trung quốc thuở xa xưa. Hồi đó có pháo trúc (âm Hán-Việt là “bộc trúc”), loại ống trúc kín hai đầu được cho vào lửa đốt nổ phá gây tiếng vang và dị bản về sau của nó là ống trúc nhồi thuốc nổ đen. Bây giờ trong thế kỷ 20 và 21 pháo trúc được biết dưới cái tên pháo cối vì nó to và nổ to nữa và thuốc đen năm xưa được thế bằng thuốc đạn nên nổ “kịch liệt” hơn nhiều. Pháo được đốt cho những lễ hội, đăng quan tiến chức, đám cưới, khai trương hay vào lễ giao thừa của ngày Tết Nguyên Đán. Việc đốt pháo giao thừa Tết Việt Nam cũng có ý xua đi những gì không hay còn vương vấn và mưa toan “chạy qua” năm mới và cùng lúc chúc mừng nắm mới an khang và thịnh vượng… vì có tiền mới mua pháo phải không các bạn…

Pháo được sử dụng trong các lễ hội (ngày lễ, ngày tết, sinh hoạt dân gian bản địa) tại các nước trên thế giới là các loại pháo dựa vào hiệu ứng âm thanh (tiếng nổ), ánh sáng (ánh lửa), màu sắc (các sắc độ màu của ánh sáng, màu của xác pháo), hình ảnh (được tạo thành khi pháo được kích hoạt) để xua đuổi ma quỷ, giải trí, quy tụ tâm thức cộng đồng, khai mạc hoặc bế mạc ngày lễ tết, tạo quang cảnh sôi động hình ảnh đẹp nhằm làm hưng phấn và cổ vũ người tham gia, từ biệt cái cũ và chào đón cái mới.

Bên cạnh một số biến thể đặc biệt của pháo có thể tạo tiếng nổ, hiệu ứng hình ảnh như pháo trúc dùng đốt trúc để đốt, pháo đất nặn bằng đất sét, những quả bóng bay được chọc thủng, đất đèn nhồi trong ống sắt châm lửa, cây pháo giấy phun các mảnh giấy màu v.v. phần lớn các loại pháo sử dụng thuốc nổ, thuốc cháy. Tuy thuốc nổ đen được sử dụng làm pháo đầu tiên trên thế giới và vẫn chưa mất đi vai trò của nó trong việc sản xuất pháo thủ công, hiện nay các loại pháo sử dụng nhiều biến thể của thuốc nổ với các chất phụ gia khác nhau tùy theo mục đích và tùy loại pháo.

Trải theo thời gian từ cổ đại cho đến đương đại, pháo rất đa dạng về kiểu dáng, hình thức, nguyên lý, phần lớn được làm thủ công tuy hiện nay nhiều loại đã được thực hiện tại các nhà máy. Các loại pháo thủ công thường sử dụng thuốc nổ đen (một loại thuốc nổ được phát minh sớm nhất là hỗn hợp của than củi, lưu huỳnh và muối nitrat kali) theo một tỷ lệ nhất định, với sự thêm thắt một số phụ gia như bột nhôm, hóa chất tạo màu (như magiê và nhôm đốt cháy tạo ra ánh sáng trắng, muối natri tạo ra màu vàng, stroni nitrat hoặc cacbonat tạo ra màu đỏ, bari nitơrat tạo ra màu xanh lá cây. Muối đồng tạo ra màu xanh nước biển)[2]. Các phụ gia thêm thắt vào thuốc nổ với dụng ý nhất định, hoặc tạo nên các bộ phận cấu thành của pháo (như thuốc phóng, ngòi nổ, chất cháy), hoặc tạo nên sắc màu của pháo khi đốt. Các loại pháo, tùy theo loại, thường phần thân dùng để chứa đựng thuốc nổ, thuốc cháy, thuốc phóng, ngòi nổ. Vỏ pháo được trang trí cầu kỳ, sinh động với những sắc màu thiên về gam nóng (như màu vàng, màu đỏ).

Các loại pháo “lễ hội” đếm được bao gồm:

– Pháo hoa hay pháo bông: được bắn lên trời tạo màu sắc của ánh sáng, tiếng nổ, hình khối màu trong một khoảng thời gian nhất định. Phổ biến toàn thế giới như một loại pháo dùng cho đại lễ, pháo hoa hiện cũng được Việt Nam sử dụng để bắn trong lễ đón giao thừa, hay trong các ngày lễ trang trọng tại các thành phố lớn.

– Pháo tháp: Các tháp bố trí nhiều loại pháo theo tầng, trên cùng thường là pháo mặt trời xoay tít, dọc theo tháp pháo là các bánh pháo rất dài và các loại pháo khác đốt cháy, nổ, phun lửa, tạo nhiều hoạt cảnh theo điển tích dân gian. Thịnh hành tại các hội pháo như Hội pháo Bình Đà.

– Pháo phụt: Pháo làm dạng cây (Pháo cây), với một phần thuốc phóng nhồi xen lẫn với các viên thuốc nổ kết hợp với phụ gia tạo màu khi cháy, khi đốt thuốc phóng cháy lần lượt phóng các viên thuốc nổ lên trời và cháy sáng các màu khác nhau.

– Pháo thăng thiên: có dạng dạng mũi tên, với một phần thân nhồi thuốc phóng, đầu phía gần ngòi được làm không quá chắc chắn để thuốc phóng dễ dàng phụt ra ngoài tạo phản lực đẩy quả pháo đi. Đầu quả pháo nhồi thuốc nổ với các quả pháo con hoặc các viên thuốc nổ kết hợp phụ gia tạo màu. Pháo thăng thiên được gắn vào một que tre nhỏ và dài như lõi que hương để có thể mắc quả pháo vào dây hay cắm xuống đất mịn để khi được kích hoạt quả pháo bay theo quỹ đạo thẳng. Bên cạnh loại gắn que, một số loại pháo thăng thiên tương đối lớn thường làm theo hình quả tên lửa, có cánh định hướng, được đặt trên mặt phẳng khi đốt. Nguyên lý tương tự các quả pháo hoa công nghiệp nhưng pháo thăng thiên thường được làm thủ công. Khi đốt thuốc phóng cháy đẩy phần đầu quả pháo bay lên cao và phần đầu của pháo phát nổ khi tới hạn.

– Pháo nhị thanh, pháo tam thanh: loại kết hợp giữa pháo thăng thiên và pháo nổ. Phần đầu quả pháo chia thành hai hoặc ba ngăn riêng biệt, nhồi thuốc nổ và có ngòi. Khi thuốc phóng cháy hết sẽ lần lượt kích nổ từng ngăn một tạo ra hai hoặc ba tiếng nổ.

– Pháo dây: dây làm dạng ngòi pháo, cho thêm chất phụ gia (như bột nhôm) để khi đốt cháy sẽ phát sáng lấp lánh. Một biến thể về sau của loại pháo này là pháo que làm dạng giống que hương.

– Pháo giật hay pháo xiết: loại pháo nổ nhưng trong thân pháo, ngoài thuốc nổ còn có hai mảnh nhỏ để tạo ma sát được gắn sát nhau vào cùng một sợi dây, đầu dây thò ra ngoài mỗi đầu quả pháo. Pháo được kích nổ bằng cách giật mạnh hai đầu dây. Loại pháo này thường có liều lượng thuốc nổ ít để tránh gây nguy hiểm cho người giật.

– Pháo nện: loại pháo sức nổ nhỏ được kẹp giữa hai lớp giấy mỏng, dùng búa hoặc hòn sỏi đập cho nổ. Người ta cũng chế ra súng đồ chơi bắn pháo nện. Loại pháo này chỉ dùng cho trẻ con chơi.

– Pháo ném hay pháo đập: là các loại pháo được nhồi thuốc nổ nhạy kết hợp với những vật nhỏ tạo ma sát (như mảnh đá, sứ…), cho phép pháo tự kích nổ khi bị ném vào vật cứng.

– Pháo diêm to bằng đầu đũa, dài cỡ que tăm đựng trong những hộp nhỏ bằng bao diêm. Chỉ cần đánh vào vỏ hộp như cách đánh diêm là pháo phát nổ.

– Pháo tép: loại pháo có kích thước nhỏ, trong nam gọi là pháo chuột.

– Pháo đại: pháo lớn từ ngón tay cái người lớn trở lên, tiếng nổ to, sức nổ mạnh.

– Pháo vịt: Nguyên lý giống pháo chuột nhưng được chế tác để có thể nổi trên mặt nước, thường cho thêm phụ gia tạo màu. Khi đốt, pháo chạy loằng ngoằng trên mặt ao, hồ với màu sắc rự rỡ. Loại pháo này hay được dùng trong nghệ thuật múa rối nước.

– Pháo giấy: loại nàu không sử dụng thuốc nổ mà sử dụng khí nén trong ống nhồi chặt các mảnh giấy màu vụn. Rất thịnh hành hiện nay như những cây pháo thay thế cho pháo sử dụng thuốc nổ, khi kích hoạt cây pháo sẽ phụt tung lên trời các mảnh giấy màu sắc lấp lánh, tạo quang cảnh rực rỡ.

– Pháo đất: nặn đất sét tạo hình khoang và người chơi đập phần khoang đó xuống mặt đất bằng phẳng để không khí trong lòng pháo bị ép lại tạo tiếng nổ.

Các hội pháo của đất nước Việt Nam mình thì có:

– Hội pháo Bình Đà tổ chức tại làng Bình Đà, Thanh Oai, Hà Tây. Làng Bình đà còn được biết đến với tên làng pháo;

– Hội pháo Đồng Kỵ tổ chức tại làng Đồng Kỵ, Từ Sơn, Bắc Ninh;

– Hội thi pháo đất Ninh Giang tổ chức tại xã Hồng Phong (Ninh Thọ), huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.

Sơ sơ không biết bao nhiêu loại pháo, thích thú hết sức tuy rằng hồi nhỏ, lúc còn bên Việt Nam thì Lành chỉ có biết có pháo chuột, pháo trung, pháo đại, pháo thăng thiên và pháo cối. Còn một thứ nữa không phải là pháo mà dùng như là pháo là M80 pháo tập của quân đội nhằm tạo tiếng vang và lực nổ như trong chiến trận.

Pháo là một biểu tượng của ngày Tết cổ truyền Việt Nam, đốt pháo còn cho thấy là dân chúng có một đời sống được sung túc và làm ăn khắm khá. Nhưng điểm nổi bật và quan trọng hơn hết là việc đốt pháo ngày lễ hội nhất là ngày Tết Nguyên Đán là biểu trưng cho một đất nước hòa bình, yên ổn, phồn thịnh và vững mạnh, chứ các bạn để ý đi, các đất nước mà tình hình loạn lạc, nội chiến hay phân tranh địa lý thì làm sao dám đốt pháo, đúng không các bạn ?

Còn người Việt bên Hoa Kỳ, Canada, Pháp thì… chắc không nhịn nổi đốt pháo đâu… Trời lạnh mà thoang thoảng mùi pháo thì cũng … ghiền lắm đó…

January 15th, 2017

Trần tử Lành

Photo credits: unknown

Jan 23

Việt Nam đất nước tôi: món ăn thuần tuý ngày Tết ta

Việt nam đất nước tôi: món ăn thuần túy ngày Tết “ta”

Dân tộc nào cũng có những thức ăn truyền thống. Nổi bật của món ẩm thực ngày Tết Nguyên Đán của dân tộc Việt Nam vừa độc đáo, vừa ngon lành, vừa bổ, vừa gắn liền với truyền thuyết dân tộc lâu đời, lại vừa có nhiều ý nghĩa sâu xa về giá trị và cội nguồn đạo đức, thì phải nói đến 2 món chính: bánh tét và bánh chưng… chứ còn món nào khác nữa các bạn.

Bánh tét có xuất xứ từ các tỉnh phía nam có dạng hình trụ, chủ yếu từ gạo nếp, đậu xanh và thịt heo (ba rọi hay đùi có ướp muối tiêu và sau đó được “luộc” kỹ nhiều giờ. Trước đây người ta “gói” bánh tét bằng dây lạc nhưng bây giờ thì bánh tét được cột kỹ bằng dây ny-lông màu. Mỗi màu dây cột để chia ra loại bánh tét: bánh tét mặn, bánh tét chay và bánh tét chuối. Ngày hôm nay thì bánh tét có nhiều “phiên bản” lắm đó chứ không thuần túy như những năm xưa kia. Bánh tét mặn có loại “cao cấp” tức là nhân sẽ có đậu xanh + heo quay hay vịt quay hay gà quay hoặc là có thêm lạp xưởng nưa nha… (y) Các phiên bản địa phương thì có:

– bánh tét lá cẩm: là loại bánh tét có màu sắc và mùi vị quyến rũ rất thích mắt và hấp dẫn người ăn bởi nhiều loại nhân ngon như lạp xưởng, tôm khô, lòng đỏ hột vịt muối, giò heo bắc thảo… Bánh tét lá cẩm là thứ bánh được người dân xứ gạo trắng nước trong Cần Thơ rất ưa dùng mỗi dịp Tết đến xuân về.

Bánh tét lá cẩm không dễ làm, phải là người có bàn tay khéo léo mới cho ra lò được mẻ bánh ngon. Đầu tiên là nếp, để có nếp ngon gói bánh phải lựa loại nếp không lộn gạo. Lá cẩm tươi, rửa sạch đem nấu và lược lấy nước làm màu bánh. Đậu xanh ngâm rửa rồi cho vào nồi nấu nhừ. Sau đó cho gạo trộn nước lá cẩm và nước cốt dừa đã chắt, nêm nếm muối, đường cho vừa miệng rồi xào trên bếp lửa khoảng 1 tiếng đồng hồ. Làm như vậy cho màu lá cẩm cũng như nước cốt dừa ngấm đầy hột nếp vừa chín khoảng 30%.

Được biết, khâu xào rất quan trọng. Xào dư nước thì bánh sẽ nhão nên phải xào đều tay, vừa lửa để bánh dẻo ngon. Rồi cột bánh bằng dây nylon hoặc dây lạt cho chắc, đem đun bằng củi từ 4-5 tiếng sau đó vớt bánh ra để nguội. Bánh tét lá cẩm được trẻ hóng ăn ngày Tết vì màu tím đẹp mắt, nhân bánh thơm ngon.

– bánh tét cớm dẹp: xuôi về miền Đồng Tháp Mười lung linh nắng gió thưởng thức món bánh tét cốm dẹp của đồng bào người Khmer chân chất dịu dàng. Cốm dẹp là nếp ngon được gặt sớm 2 tuần trước mùa thu hoạch lúa nếp vào khoảng tháng 10 âm lịch. Sau đó, các chị, các mẹ người Khmer cho lúa nếp non vào chảo rang trên lửa nhỏ rồi dùng chày giã cho hạt nếp bong ra để thành cốm dẹp dành làm bánh tét ngày Tết.

Cốm dẹp làm bánh được ướp cùng đường cát và nước dừa khoảng 15 phút cho ngấm đều. Tiếp đến, người dân Khmer dùng đậu xanh đãi vỏ, nấu nhừ và tán nhuyễn với đường để làm nhân bánh cho bùi. Bánh tét cốm dẹp được nấu bằng củi từ 3-4 tiếng, sau đó vớt ra cho vào thùng nước lạnh để giữ bánh ăn dần trong mấy ngày tết. Bánh tét cốm dẹp ngon, dẻo, ăn không ngán nên thường được người Sài Gòn chọn làm món quà quê đem biếu người thân, bạn bè mỗi khi có dịp Tết về quê.

– bánh tét ngũ sắc: với màu sắc rực rỡ và nổi bật nhất trong các loại bánh tét ngày xuân. Bánh tét ngũ sắc tràn đầy sắc hương với 5 vị khác nhau thường được người miền Tây dùng để biếu nhau ngày Tết với ý niệm chúc một năm suôn sẻ vuông tròn.

Bánh tét ngũ sắc không gói từ gạo nếp mà được gói bằng xôi đã đồ chín. Đặc điểm của bánh tét ngũ sắc là khi cắt ra bánh sẽ chia rõ thành 5 sắc màu: xanh lá dứa, đỏ của gấc và trứng vịt muối, vàng của đỗ xanh và trắng của thịt mỡ. Rực rỡ như vậy nên bánh tét ngũ sắc là nỗi thòm thèm của nhiều trẻ em ngày Tết. Gói bánh tét ngũ sắc cần cuộn nhanh, giữ chắc tay để các nguyên liệu bám dính vào nhau cho ra thứ bánh ngũ vị xinh đẹp.

– bánh tét mật cật: có tên gọi hết sức là lạ tai của thứ bánh tét miền đảo Phú Quốc. Mật cật là loại cây có lá xòe rộng như lá cọ, mọc đầy trên dãy núi Hàm Ninh. Để có đòn bánh này, trước tiên người ta phơi lá mật cật hơi héo, rửa và lau lá bằng dầu cho mềm hơn. Nếp để gói bánh tét mật cật được lựa kỹ càng. Sau khi rửa sạch để ráo, nếp được nhuộm màu xanh ngọc bích bằng nước cốt lá ngót cùng nước cốt lá dứa.

Đậu xanh nấu nhừ cùng dây thịt mỡ làm nhân. Bánh tét nấu chín vừa dẻo chất nếp, vừa ngọt bùi hương đậu xanh, vừa thơm béo thịt mỡ, thơm hương đồng cỏ nội của lá dứa, lại có tính giải nhiệt, ngừa và trị được mụn nhọt nhờ nước cốt lá ngót. Một điểm đặc biệt là bánh tét mật cật được gói thành đòn hình tam giác khá lạ mắt. Vì thế, có dịp ra Phú Quốc thì cứ mạnh dạn mua thử món bánh tét mật cật này về làm quà, thế nào cũng có người xui bạn ra mua tiếp về ăn.

Riêng về bánh chưng thì loại bánh nếp được gói thành hình vuông, duy nhất có lịch sử lâu đời trong ẩm thực truyền thống Việt Nam còn được sử xanh nhắc lại, bánh chưng có vị trí đặc biệt trong tâm thức của cộng đồng người Việt và nguồn gốc của nó có thể truy nguyên về truyền thuyết liên quan đến hoàng tử Lang Liêu vào đời vua Hùng thứ 6. Sự tích trên muốn nhắc nhở con cháu về truyền thống của dân tộc; là lời giải thích ý nghĩa cũng như nguồn cội của của Bánh Chưng trong văn hóa, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của cây lúa và thiên nhiên trong nền văn hoá lúa nước.

Ngày hôm nay thì bánh chưng cũng có nhiều “phiên bản” không chịu thua bánh tét miền Nam đâu nha… :-), nghe khá lạ tai và thấy cũng lạ mắt thì phải nói đến 3 loại bánh chưng sau đây:

– bánh chưng gấc đỏ: có vị mặn ngọt và màu đỏ đẹp tượng trưng cho phú quý phát tài, mang lại nhiều may mắn. Cách gói bánh chưng gấc như gói bánh chưng xanh, nhưng khi bóc ra, ruột bánh chưng gấc đỏ.

Bánh chưng gấc được làm từ các nguyên liệu tươi ngon: nếp, đậu xanh, gấc, thịt heo, gia vị… bề ngoài vẫn xanh như bánh chưng xanh, nhưng khi bóc ra, ruột đỏ au, gạo dẻo, nhuyễn lại có vị mặn ngọt của gấc và các gia vị truyền thống của người Việt, tạo nên một mùi vị đặc biệt.

– bánh chưng nếp cẩm: có vỏ bánh có màu đen tím như ta có thể thấy ở hạt nếp cẩm. Vỏ bánh khi ăn rất mềm và dẻo, ăn vào có cảm giác thanh – mát. Nhân của bánh có vị rất mới lạ, được trộn thêm hành vào nhân thịt mỡ, với hạt tiêu vỡ được bọc trong vỏ ngoài là đậu xanh.

Bánh chưng nếp cẩm là món ăn giàu dinh dưỡng, rất tốt cho sức khỏe đặc biệt là hệ tuần hoàn và tim mạch. Nếp cẩm là một món ăn có vị ngọt, tính ẩm, dễ tiêu hóa, làm ấm bụng. Vì thế, cơm nếp cẩm rất tốt đối với những người có vấn đề về tiêu hóa hoặc mắc các căn bệnh về dạ dày. Thực phẩm này góp phần lớn trong việc bảo vệ và mang đến giá trị sức khoẻ, đặc biệt là những người gầy, người muốn tăng cân.

– bánh chưng ngọt: sử dụng gạo nếp, đậu xanh, đường phên, thịt lợn nạc hơn bánh chưng thường. Bánh chưng ngọt cầu kì hơn trong khâu gói khi đường phên phải là đường ngon, được cạo mỏng từ những tảng lớn, màu nâu sậm, vị ngọt đậm.

Gói bánh chưng ngọt cần hoa hồi, chút vỏ quế, dừa, thế mới làm nên hương vị đặc biệt. Hoa hồi khô mua ở tiệm thuốc Bắc cùng vỏ quế được nghiền thành bột mịn rồi ướp với thịt, nước mắm, hạt tiêu. Đường phên gói đến đâu, cạo tới đó để tránh đường bị ướt.

Bánh chưng ngọt là một món mặn… nghe như là chay đó các bạn… 😉 Chưa hết chuyện khi nói về bánh chưng đâu nha, còn có những bánh chưng “đặc sản” của địa phương như:

– bánh chưng bờ đậu: được làm từ gạo nếp đặc sản của núi rừng Định Hóa một huyện ở miền núi trung du tỉnh Thái Nguyên, thứ gạo nếp dẻo và rất thơm. Gạo nếp được chọn hết sạn, những hạt đầu đen và hạt tẻ lẫn vào, sau đó vo sạch, ngâm trong nước vài tiếng để gạo nở, để ráo nước, trộn với một chút muối và chuẩn bị gói. Lá dong để gói bánh là thứ lá nếp, dày, xanh mướt, bản rộng. Lá chặt từ rừng Na Rì, chợ Đồn, Bắc Kạn về rửa sạch cả hai mặt, để ráo nước, dùng khăn sạch lau khô, tước bớt cuống lá, cắt bớt ngọn lá và phần cuống lá, xếp gọn lá bên cạnh chậu gạo. Lạt buộc bánh phải là thứ lạt chẻ bằng cây giang.

– bánh chưng Tranh Khúc: Làng Tranh Khúc (xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì, Hà Nội) từ lâu đã nức tiếng với nghề gói bánh chưng truyền thống. Những chiếc bánh chưng Tranh Khúc dẻo, thơm ngon là địa chỉ quen thuộc không chỉ của người dân Hà Nội mà nhiều khách phương xa.

Gạo nấu bánh có rất nhiều loại: của Bắc Ninh, Thái nhưng nếu chọn loại nếp cái hoa vàng của vùng Hải Hậu ngon. Đậu xanh chọn loại ngon, dẻo. Sử dụng đậu vỡ sẵn, hoặc loại đậu hạt tiêu, sẫm màu, ngon và thơm ngậy hơn loại đậu mỡ hạt to, lại bở và dẻo. Bánh gói chặt tay, buộc chặt rồi luộc 8-10 tiếng. Khi bánh chín, rửa qua nước lạnh cho bánh được sạch, lá không bị khô, xấu lá. Rồi sau đó dùng một tấm phên chèn để nước trong vỏ bánh chảy hết khi bánh vẫn còn đang mềm, làm như vậy có tác dụng làm cho bánh nở đều, các góc chặt như nhau.

Cái ngon của bánh chưng là màu lá sau khi luột một trận … mà vẫn xanh tươi… các bạn đồng ý không?

Các bạn có thấy quê hương Việt Nam chúng mình đẹp và hữu tình, hữu nghỉa không, không chỉ vào những ngày Tết, lễ hội mà còn đẹp ở cái tình thân thiết với mảnh đất cha ông mình, đẹp ở cái văn hóa anh hùng và bất khuất của cả nhiều thế hệ… Lành dám chắc là thuở xưa kia, Vua Quang Trung cho lính ăn Tết sớm để đánh đuổi giặt Tàu ra khỏi đất nước Việt Nam, chắc chắn cũng có món bánh chưng đó….

January 22nd, 2017

Trần tử Lành

Photo credits: unknown

Jan 23

Cảm thông và tình yêu

Cảm thông và Tình Yêu.

Thông cảm với nổi đau của một người là món quà đẹp nhất mà chúng ta có thể tặng cho người đó.Sự thông cảm là một tên khác của tình yêu. Nếu bạn không biết thông cảm, bạn không thể yêu được.

( Comprendre la souffrance de quelqu’un est le plus beau cadeau que nous puissions lui offrir. La compréhension est l’autre nom de l’amour. Si vous ne comprenez pas, vous ne pouvez pas aimer )

January 6th, 2017

Bích Ngọc Bùi

Photo credit: unknown

Jan 23

Lễ thánh Nicolas

Lễ thánh Nicolas

Hôm nay 6/12 là lễ thánh Saint-Nicolas ở Bỉ, mà lúc mới đến đây mình lầm là 1 với ông già Noel. Thánh Saint Nicolas tên là Nicolas De Baris. Ông sinh năm 270 & mất ngày 6/12/ 345. Lúc sinh thời, ông là cha xứ vùng Mery thuộc nước Thổ Nhỉ Kỳ ngày nay. Ông giúp đỡ rất nhiều cảnh cùng khổ & tranh đấu cho công bằng. Khi mất đi ông được phong thánh, đặc biệt là thánh bổn mạng cho những trẻ ngoan. Thường được tháp tùng cùng với thánh Saint-Nicolas là père Fouettas ( cha Roi Mây 😉 ) , là 1 nhân vật được chế thêm sau này, để phạt những trẻ hư. Cha Roi Mây giờ cũng hiền lành, phụ phát quà là chính, nên nhiều nơi đã bỏ nhân vật này.

Week end trước ngày lễ chính, các trường tiểu học đều tổ chức phát quà . Saint-Nicolas có gài tình báo trước nên biết vanh vách tường tận điểm tốt điểm xấu của mỗi bé. Ngày còn nhỏ, con gái mình tin lắm vì Saint-Nicolas biết tuốt , nàng cố gắng sửa đổi những cái không tốt mà Saint-Nicolas đã dặn. Các trung tâm thương mại cũng dựng 1 ngôi nhà để Saint-Nicolas phát bánh kẹo, đồ chơi… cho các em. Rồi gia đình cũng cho quà nữa. Tóm lại, tháng 12 là tháng ngập quà cáp của các em nhỏ

Đêm qua, trước khi ngủ, trớ trêu, mình ” được” coi 1 khúc phim cũng về những đứa bé, chỉ khác là những bé này sinh sống tại 1 vùng nghèo ở Campuchia hay VN gì đó không rõ. Một người đàn ông nói tiếng Việt đã hành hạ đứa bé, nhỏ lắm, bằng những hành động không tưởng tượng được. Mình rán coi cho đến hết khúc phim vài phút ấy mà chỉ muốn ói. Cả đêm làm ác mộng & hôm nay thì bịnh luôn. Tự dưng buồn quá.

December 6th, 2017

Bích Ngọc Bùi

Photo credits: unknown

Jan 23

Ước mơ của con



Ước mơ của con ! (Tiêu đề của BBN)

Photo credit: unknown

Jan 23

Mì quảng Nha Trang trên hè phố đêm

MÌ QUẢNG NHA TRANG TRÊN HÈ PHỐ ĐÊM.

Năm đó, cuốc bộ trên hè phố đêm Nha Trang.

Ghé thử quán bụi bên vỉa hè. Quán bán mì quảng, bún sứa, bún cá, bánh canh cá dầm. Ông chủ đội nón bê rê, thong thả bán hàng, thong thả trò chuyện, thong thả hút thuốc. Chuyện vãn chủ khách lan man. Ông vui miệng kể chuyện hàng quán, chuyện vợ con, chuyện bán quán đêm. Dăm khách quen, cùng người khách lẻ Sài gòn. Tối yên tĩnh và trong lành mùi biển. Ông chủ bán thong dong. Cuộc sống ban đêm thong dong. Đêm Nha Trang trôi thong dong.

Hai năm sau quay lại Nha Trang.

Tìm lại quán bụi vỉa hè. Quán đã dịch đi một chút, nép vô một góc hẻm gần ngay bên. Bàn ghế dọn ít lại, gọn gàng hơn. Vẫn nhận ra ông bán quán năm trước. Vẫn dễ gợi chuyện trò. Câu chuyện lần này ông nói về sự lo lắng, ưu tư, không biết ngày nào quán bị đuổi. Toà nhà cũ đã bị đập và đang dọn mặt bằng đổ móng cho một khách sạn. Khách Nga tràn Nha Trang. Tối đó, quán ông ít khách hơn. Chỗ ngồi bụi hơn. Đêm thưa gió mát và đêm bớt mùi biển. Ông vẫn bán thong dong. Mà khuôn trán thấy chút bâng khuâng. Số phận quán vỉa hè mông lung.

Năm nay quay lại.

Mừng mừng tủi tủi vì bao năm vẫn thấy ông chủ và quán vỉa hè còn y đó. Tối nay, ông bán đắt lắm, cặm cụi luôn tay. Khách ngồi đầy ghế. Đông đúc và ồn ào. Toàn khách tàu. Chủ và khách không cùng ngôn ngữ. Khách muốn gì, cứ chỉ chỉ, trỏ trỏ. Muốn trụng rau, khách kêu ông ê ê, rồi chỉ vào dĩa rau và nồi nước trụng. Khách muốn ăn xíu quách, bước luôn vô tận nồi nước lèo, chỉ vào thau xíu quách. Ông im lìm, mặt im lìm, miệng im lìm, trụng mì, trụng bún, thả thịt, múc nước lèo, luôn tay.

Cố tình ngồi ăn thiệt chậm rãi, canh quán vãn khách để bắt chuyện. Mà thấy ông cứ luôn tay, nên ngại, sợ phiền. Chờ mãi, đành trả tiền về. Bâng quơ đầu câu chuyện: “Chà, khách tàu thích ăn quán mình dữ ha anh”. Ông gượng trả lời, vẫn không tỏ cảm xúc. “Thì khách nào cũng bán thôi. Khách nào vô ăn thì cũng bán thôi. Chuyện khác nhà nước lo.” Hổng dám nói thêm gì. Vì hổng biết ông đang buồn hay vui với cái quán đông khách của mình.
Ngồi bán trong đêm phố thị, ông có thấy thong dong…

January 23rd, 2017

Võ thị Trang Hân

Page 10 of 46« First...5...1011...152025...Last »