May 01

Có một cậu bé

Có cậu bé khoảng 9, 10 tuổi dễ thương lắm hay theo ba đến tiệm mình mua đồ ăn. Cậu bé cứ hay đứng ngay comptoir ngó mình hoài. Một hôm , bé nói. Cô à, chồng của cô thiệt là người sung sướng . Cả mình và ba cậu bé đều ngạc nhiên. Mình hỏi tại sao . Tại ông ta được ăn đồ ăn châu Á mà không phải trả tiền !
Dễ thương ha .
Chiều trong công viên . Chúc tất cả một chủ nhật vui vẻ nha 😉

April 30th, 2017

Bích Ngọc

Photo credit: unknown

May 01

Dịch giả thứ nhì của Câu Chuyện Dòng Sông

Dịch giả thứ nhì của Câu Chuyện Dòng Sông,

Hermann Hesse (1877-1962, giải Nobel về Văn Chương năm 1946) viết Siddhartha năm ông 45 tuổi (1922), Siddhartha được dịch ra Việt ngữ từ nguyên bản Đức ngữ bởi Phùng Khánh và người em gái là Phùng Thăng khi Phùng Thăng mới vừa 23 tuổi (Hermann Hesse: Câu chuyện dòng sông, Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch. Lá Bối xuất bản lần 1 (1965), lần 2 (1966); An Tiêm xuất bản lần 3 (1967). Về sau, độc giả thường nhớ đến Phùng Khánh nhiều hơn Phùng Thăng phần nhiều là do hình ảnh của ni sư Trí Hải (pháp danh của Phùng Khánh), và những công quả về hoằng pháp của bà ta, và cũng có lẽ do Phùng Thăng mất quá sớm (1975). Thành thử, phần lớn trong chúng ta mọi người thường nhắc đến Phùng Khánh như là dịch giả của Cậu Chuyện Dòng Sông, âu cũng là một chuyện dễ hiểu.
Mùa hè 2016, trong thư viện và phòng làm việc của cố họa sĩ Đinh Cường, tình cờ thấy số tháng Tám năm 2016 của nguyệt san Thư Quán Bản Thảo, dành trọn để tưởng niệm Phùng Thăng, mình đọc ngấu nghiến với hy vọng cho yên ổn đi phần nào tâm trạng lúc ấy rối bời vì chuyện gia đình.

March 25th, 2017

Minh Quân

Từ trái sang phải, Phùng Khánh rồi Phùng Thăng đúng thứ ba.
(còn tiếp)

Photo credit: umknown

May 01

Hai trận đánh của cùng một cuộc chiến

Ngày 30 tháng 4 vừa qua, mình không ngờ là vẫn còn rất nhiều người thân và bạn bè tiếp tục post lên FB những câu chuyện, những cảm tác và hình ảnh liên quan đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Như hầu hết các bạn sống tại Mỹ đã biết, giải Pulitzer năm 2016 vừa qua được trao cho một nhà văn Mỹ gốc Việt là ông Nguyễn Thanh Việt, với tác phẩm đầu tay là The Sympathizer. Gần đây tuyển tập truyện ngắn của ông The Refugees cũng được hoan nghênh nhiệt liệt.
Mùa hè năm 2016, mình bắt gặp cuốn The Sympathizer trong tủ sách của em mình, vốn mang tiếng nerdy trong gia đình nên thật không ngờ khi hắn đọc cuốn này. Cuốn sách dầy quá làm mình đâm ngán. Vả lại, lúc đó đang … mê Công Tằng Tôn Nữ … Phùng Thăng nên không có hứng đọc tiếng Anh, nhất là thứ tiếng Anh trau chuốt điêu luyện và sang trọng của Nguyễn Thanh Việt.

Nhưng vào ngày 30 tháng 4 năm nay, một câu văn trong chuyện ngắn Nothing Ever Dies của ông, thật xứng đáng để diễn tả và giải thích hết những nỗi niềm trong chúng ta mỗi khi nhớ về ngày 30 tháng 4:

“All wars are fought twice, the first time on the battlefield, the second time in memory”

Hầu như ai nấy trong chúng ta cũng đều vẫn còn tiếp tục đánh trận này … trong ký ức !

May 1st, 2017

Minh Quân

 

Photo credit: talenttalks.net

Photo credit: ala.org

May 01

Cuốn phim nhựa cũ

“Túy Ngọa Sa Trường Quân Mạt Tiếu
Cổ Lai Chinh Chiến, Kỷ Nhân Hồi”

Ngày 29 tháng 12 năm 1964, tỉnh trưởng tỉnh Phước Long, ông Mai Xuân Bảo trong khi đi thị sát bằng trực thăng đã bị Việt Cộng bắn lén và ông đã tử thương. Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa đã cấp lời đăng lục “Vị Quốc Vong Thân” cho ông. Tang lễ thật lớn với cỗ xe hai hàng đưa ông về Nghĩa Trang Mạc Đình Chỉ theo đúng lễ nghi đưa tiễn những anh hùng hy sinh cho tổ quốc.

Mẹ vợ tôi trân quý những cuốn phim nhựa ghi lại hình ảnh của hai ông bà và các con do chính tay nhạc phụ tôi quay, cũng như những thước phim ghi lại tang lễ của ông. Ngày tôi gặp lại bà, tôi quyết định bằng mọi giá tôi sẽ đem cho bằng được những thước phim đó ra nước ngoài cho bà cụ. Lúc đó là năm 1993, không có internet, không có computer chip, chỉ có VHS video là cách duy nhất để thu lại hình ảnh.

Tôi ra chợ trời tìm mua cho bằng được một projector phim nhựa và tắt đèn tối thui cả nhà để chiếu lại những thước phim lên tấm chăn trắng và thâu lại vào video. Tất cả các băng video lúc đó khi đem ra nước ngoài đều phải đem đi kiếm duyệt và chỉ được nhận lại khi ra tới phi trường. Vì những hình ảnh tang lễ của một sỹ quan quân lực VNCH trong video, tôi không thể gửi video đi kiểm duyệt được, tôi chỉ có cách là đem theo trong người và tùy cơ xử lý khi ra tới phi trường. Chuyện không dễ,nếu bị bắt tôi có thể bị ở tù như chơi. Nhưng nhờ ông cụ sống khôn, thác thiêng phù hộ, nhờ tài luồn lách, sự điếc không sợ súng của tôi và nhất là nhờ thói ăn hối lộ của bọn Hải Quan, tôi đã chuyển những thước phim của ông cụ ra được nước ngoài. Chuyện đã hơn hai mươi năm trước và kỹ thuật lúc đó cũng không được như bây giờ, nhưng vì thương cảm bà cụ cả đời thủ tiết thờ chồng, nuôi con, cũng như ngưỡng mộ một thời vang bóng của ông cụ, tôi đã dựng lại cuốn video cho bà cụ với đủ tình tiết từ ngày hai người mới có đứa con đầu lòng cho tới đám tang của ông cụ. Đây là 1 phần nhỏ trong cuốn phim nhân dịp ngày 30 tháng 4, xin chia sẻ với các bạn. Những bài nhạc cũng như lời tựa do ca sĩ Khánh Ly đọc trong video clip này cũng rất hay. PK đã tốn rất nhiều thời giờ để sưu tập và góp nhặt.

May 1st, 2017

Phan Khanh

Apr 30

Một ngày buồn cho một nửa quê hương

Một Ngày Buồn Cho Một Nửa Quê Hương

Mẹ tôi khóc suốt buổi chiều hôm đó
Ngày miền Nam sụp đổ mọi niềm tin
Tôi còn bé giương mắt nhìn ngơ ngác
Đoàn hùng binh buông súng, cởi treillis

Rời phố thị tôi về nhà trên đảo
Chiều xa trông bộ đội kéo quân về
Trên nón cối cắm lá rừng ngụy tạo
Bước vào thành họ lạc lõng làm sao

Mẹ tôi khóc và chị tôi cũng khóc
Ba tôi buồn cúi mặt dáng xiêu xiêu
Tôi ra đứng tựa bên khung cửa nhỏ
Nghe dòng sông khóc cạn hết nỗi niềm

Với tâm trí của trẻ thơ chưa rõ
Thế giới này đang sụp đổ dưới chân
Mẹ tôi nói thôi thế là đã hết
Nước mất rồi, ước vọng cũng tan theo

Hòa bình đến Ba tôi đi biệt xứ
Vượt trùng khơi tìm đất sống cho con
Mẹ tôi ráng gánh gồng trên đất khổ
Đưa gia đình đoàn tụ, sống ly hương

Quê Mẹ đó nay cách xa vời vợi
Tôi lớn lên nơi xứ lạ quê người
Giờ ngó lại bốn mươi hai năm chẳng
Nhưng niềm đau cánh cánh vẫn chưa nguôi

Cuối Tháng Tư
Washington D.C.

LDC

 

Apr 30

Vẫn không bao giờ thôi hãnh diện

 

Vẫn không bao giờ thôi hết hãnh diện mình là con của một Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Ông được đào tạo từ trường Sĩ Quan Võ Bị Đà Lạt. Ngày mất miền Nam, ông đã quyết định ở lại cùng bao nhiêu chiến hữu khác. Và ngày 15 tháng 6, ông cũng đã cùng những chiến hữu của mình bị Cộng Sản đưa vào “trại tù cải tạo”. Những người con của ông và con của đồng đội ngày xưa của ông đã phải chịu đựng những oan nghiệt mà chỉ vì những đứa con đó là con của “Nguỵ Quân” mà chính quyền Bắc Việt đã áp đặt lên.

April 30th, 2017

Anh Thư

Apr 30

42 năm về trước

Cùng ngày hôm nay… 42 năm về trước…

Thiếu tá Lý Bửng và cú đáp lịch sử trên hàng không mẫu hạm USS Midway trong ngày lịch sử 30-4-1975.

Đó chính là thiếu tá phi công Lý Bửng, đã lái chiếc máy bay Cessna O-1 “Bird Dog” (L-19), còn gọi là máy bay bà già, một mẫu máy bay trinh sát và tiền tiêu với 2 chỗ ngồi, một cho phi công và một cho hoa tiêu. Thiếu tá Lý Bửng đã làm một việc không tưởng là trên chiếc máy bay 2 chỗ cánh quạt này đã chở tới 7 người, gồm vợ chồng ông và 5 người con.

Ngày 29-4, thiếu tá Bửng đã cùng vợ con bay từ phi trường Tân Sơn Nhất ra Côn Sơn để sáng ngày thứ tư 30-4-1975 sẽ bay từ Côn Sơn ra hàng không mẫu hạm của Mỹ đậu ngoài khơi. Ông biết có chiếc tàu hàng không mẫu hạm trực chiến ngoài biển, nhưng không biết chính xác vị trí nào. Rồi ông thấy nhiều máy bay trực thăng của VNCH bay về một hướng, nên ông bay cũng theo họ và tìm thấy tàu USS Midway.

Gặp tàu rồi nhưng sao mà liên lạc được đây ? vì không có tần số VHF và khẩu lệnh (code sign) của hạm đội Hoa Kỳ nên không liên lạc để xin đáp. Thiếu tá Bửng bay vòng quanh tàu và chớp đèn ra hiệu đáp, nhưng ông không nhận được tín hiệu đèn xanh để đáp xuống.

Trong khoan chỉ huy của tàu USS Midway thì các sỹ quan chỉ huy tưởng rằng chỉ có một mình thiếu tá Bửng trên máy bay, nên họ đã cố gắng liên lạc với ông, bảo ông không đáp trên tàu, mà phải đáp xuống biển, tàu Midway sẽ cho ca nô ra vớt. Thế nhưng, mọi liên lạc của cả 2 bên đều không thành.

Thiếu tá Lý Bửng đã kể lại: ông đã viết vào mảnh giấy xin lệnh đáp, cột vào cái dao và quăng xuống tàu. Ông làm như vậy 3 lần, nhưng nó đều rơi ra biển. Lần thứ 4, ông cột miếng giấy vào khẩu súng lục, bay thật thấp rồi quăng. Lần này nó rơi xuống tàu sân bay. Mảnh giấy ghi: “Các ông làm ơn dời chiếc trực thăng sang bên kia cho tôi đáp xuống đường băng. Tôi có thể bay thêm một tiếng nữa, chúng ta có đủ thời gian để dời. Làm ơn cứu tôi. Thiếu tá Bửng, vợ và 5 đứa con”.

Hạm trưởng tàu USS Midway, đại tá Larry Chambers đã cho phép thiếu tá Bửng hạ cánh. Trên tàu USS Midway lúc đó đầy các trực thăng của không quân VNCH nên hạm trưởng Chambers ra lệnh cho các thủy thủ đẩy các chiếc trực thăng UH-1H xuống biển để tạo chỗ đáp cho chiếc L-19. Trị giá của số máy bay trực thăng bị đẩy xuống biển lúc đó khoảng 10 triệu Mỹ kim (giá một chiếc UH-1 ước tính giá trị khoảng 298 ngàn Mỹ Kim – tài khóa 1974). Sau đó đại tá Larry Chambers đã bị ra tòa án quân sự về việc “phí phạm công quỹ” này nhưng bội thẩm đoàn đã không truy tội vì ông đã xử sự vì lý do nhân đạo đã cứu được 7 mạng sống.

Hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ chỉ có lưới và móc để giữ các loại máy bay phản lực khác khi đáp, nhưng lại không có dụng cụ để giữ lại chiếc L-19 của ông Bửng hạ cánh. Thế nhưng thiếu tá Bửng ngoài sứ tưởng tượng của toàn thể thủy thủ USS Midway, đã đáp xuống tàu thành công, trước những cặp mắt kinh ngạc của tất cả những quân nhân Hoa Kỳ và các đồng nghiệp phi công Việt Nam Cộng Hòa có mặt trên tàu .

Trên sử của quân chủng hải quân Hoa Ky thì chỉ có 2 lần duy nhất mà máy bay loại cánh thẳng (fix wing) cất cánh hay đáp xuống hàng không mẫu hạm: 1- trung tá James Dollitle cất cánh với 16 chiếc B-25 từ tàu USS Hornet để đánh bom các thành phố Nhật trong thế chiến 2; 2- trung tá Lý Bửng hạ cánh chiếc L-19 trên sân đáp của tàu USS Midway ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Hiện nay chiếc L-19 với ký danh O-1 Bird dog được trưng bày tại viện bảo tàng hải quân tại căn cứ Pensacola.

April 30th, 2017

Tử Lành


 

Photo credits : unknown

Apr 30

Cách mạng của hoa Cẩm Chướng

Tháng Tư ở Lisbon, Bồ Đào Nha cũng đánh dấu một cuộc đổi đời, nhưng là một cuộc đổi đời với kết quả thực sự tốt đẹp. Ngày 25 tháng 4 năm 1974, quân đội nơi đây lật đổ chế độ độc tài của Marcello Caetano, chấm dứt hơn 50 năm cai trị của nhóm quân phiệt phát xít, đã đưa đất nước Bồ Đào Nha từ địa vị một cường quốc từ thế kỷ thứ 13 với hơn 6 thế kỷ cai trị trên các thuộc địa từ châu Phi, đến châu Á và Năm Mỹ trở thành một quốc gia hạng nhì ở Châu Âu.

Cuộc cách mạng tháng 4 mang một cái tên thật thơ mộng, thật mỹ miều là cuộc cách mạng của hoa Cẩm Chướng (the carnation revolution), vì đây là cuộc đảo chánh không đổ máu của quân đội. Người dân xuống đường, và nhân mùa hoa cẩm chướng vào tháng 4, đã cài hoa trên nòng súng của quân đảo chánh, kêu gọi một cuộc thay đổi ôn hòa không đổ máu giữa phe cầm quyền và quân đội đã khước từ bổn phận trung thành với chế độ, để chọn phiá nhân dân.

Đây là một cuộc cách mạng đẹp như chuyện thần tiên, và thật sự cực kỳ hiếm hoi của thế kỷ trước.

April 25th, 2017

Minh Quân

Photo credit: unknown

Photo credit: unknown

Apr 30

30 tháng Tư

30 tháng Tư

Dòng lịch sử hôm nay ngồi nhớ lại
42 năm ký ức vẫn còn đầy
Ngày khói lửa miền Nam tàn cuộc chiến
QUÊ HƯƠNG ơi, ly tán với tù đày
Độc lập- Tự do…ở đâu chẳng thấy?
Phất phới gì lá cờ đỏ tung bay!
42 năm ngồi đây nghĩ lại
Hoà Bình rồi sao vẫn mãi…lưu vong?!!!!

Tháng Tư đen như …mực Tầu
Vẩy lên cả Nước…một màu tang chung!
Tháng Tư hạ bức màn nhung
Miền Nam thất thủ, Sài Gòn đổi tên
Tháng Tư dân Việt lênh đênh
Biển Đông nuốt trọn oan khiên dân mình!
Tháng Tư về với chút tình
Làm thân viễn xứ…bùi ngùi Tháng Tư!

April 30th, 2017

Anh Nguyễn

Apr 30

Chút kỷ niệm xưa

“Anh phải chết, để em và con có đường sống!”

Trời nắng chang chang như muốn đốt cháy da thịt của những người tù ở trại giam Bù Gia Mập. Thiếu tá Lê Huy Thông vẫn liên tục giơ cao cái rựa chặt liên tục vào cây tre để gom đủ chỉ tiêu được giao bởi bọn cán bộ quản giáo. Ngày mai là cuối tuần, ông biết vợ ông sẽ lên thăm ông và nếu ông không chặt đủ tre, bọn quản giáo sẽ làm khó dễ và có thể sẽ không cho ông gặp vợ ông. Sau một hồi chặt tre liên tục, ông ngừng tay, vất cái rựa xuống đất, ngồi dựa vào gốc tre, đưa cánh tay áo quệt những giọt mồ hôi đang lăn dài trên trán, chảy vào cay xè mắt ông. Ông hít một hơi dài để lấy thêm sức chịu đựng, ông đâu ngờ sau chiến tranh cuộc đời ông lại thảm thương như vậy, nhà tan, cửa nát, gia đình ly tán. Tựa đầu vào bụi tre, ông nhắm mắt nhớ lại thời gian hạnh phúc của gia đình ông trước biến cố tháng 4, 1975…

Lập gia đình bao nhiêu năm, vợ chồng ông vẫn hiếm muộn, ông tự lấy lá số tử vi và nghiệm ra rằng số ông phải có một người con nuôi rồi mới có thể có được 1 đứa con ruột. Thấy gia đình hàng xóm, có 10 người con, ông xin phép được lấy số cho cả 10 đứa. Ông bà hàng xóm hân hoan nhận lời ngay vì họ thật tình cũng mong vợ chồng có 1 đứa con cho vui của, vui nhà. 10 lá số, chỉ có 1 lá hợp với vợ chồng ông. Thế là một buổi tiệc nhỏ nhận con nuôi diễn ra và ông bà nhận thằng con trai giữa của nhà hàng xóm về làm con nuôi. Thằng nhóc tuổi Cọp, tối tối lại leo qua ban công để vào ngủ chung nhà với ông bà “lấy hơi”. Tin hay không tin nhưng mọi chuyện xảy ra như lá số tử vi đã định, chỉ trong vòng 1 năm, vợ ông thụ thai và sinh cho ông được một cậu con trai kháu khỉnh. Ông bà đặt tên con là Lê Huy Thái. Niềm vui chưa kịp trọn vẹn thì Việt Cộng chiếm miền Nam và ông bị bắt đi học tập cải tạo.

Trước 75, ông là Thiếu Tá sĩ quan Tiếp Vận. Thời gian cuối cùng trước khi cộng sản vào Saigon Thiếu Tá Lê Huy Thông là giảng viên Trường Tiếp Vận tại căn cứ Long Bình, tuy nhiên đối với VC ông vẫn là sĩ quan Ngụy và có nợ máu với nhân dân. Không biết bao nhiêu lần ông phải viết những tờ tự kiểm dài đặc trang này qua trang khác, tự cáo buộc mình với những tội danh hoàn toàn vô lý, không tưởng. Ông rất uất ức và đã nhiều lần phản đối cũng như tranh cãi với bọn quản giáo. Lý luận ông rất có lý và chính đáng làm bọn quản giáo nhiều phen cứng họng và chỉ biết thốt ra: “À thằng này láo, có tội mà vẫn cứng đầu. Đảng và nhà nước đã khoan hồng mà vẫn còn ngụy biện….” Tháng trước vợ ông lặn lội lên thăm ông, bọn quản giáo trừng phạt tôi phản động của ông bằng cách không cho bà gặp ông, chúng để bà và ông nhìn nhau qua hai hàng rào chống B52 và đuổi bà về để dằn mặt ông.

Ngày mai ông biết vợ ông sẽ lại lên thăm ông. Vợ ông, Bà Ðỗ Thị Thư, một người đàn bà rất hiền, trước 75 bà là cựu học sinh Trưng Vương, tốt nghiệp trường Quốc Gia Hành Chánh Saigon và trước năm 1975 bà là nhân viên Ty Thuế vụ Quận 2 rồi Quận 6, Ðô Thành Saigon. Bà quê ở Hà Nội, theo gia đình di cư vào Nam năm 1954, Bà Thư kết hôn với ông lúc ông còn mang cấp bậc Trung Úy ngành Quân Nhu từ năm 1964. Từ lần bà thăm ông đầu tiên, ông đã khuyên vợ nên đem con vượt biên nhưng bà không thể dứt tình bỏ ông bơ vơ trong tù để tìm tự do cho được. Bà khuyên ông cúi đầu nhịn nhục và hy vọng có ngày vợ chồng, con cái được đoàn tụ rồi lúc đó cả nhà sẽ tìm đường vượt biên.
Nghĩ đến ngày mai sẽ gặp được vợ ông, ông đứng lên cầm cây rựa và chặt liên tục vào những cành tre. Ông chặt hơn cả chỉ tiêu đề ra lúc sáng của tụi quản giáo với hy vọng là chúng sẽ thoải mái với ông hơn khi vợ ông lên thăm ngày mai. Gánh tre về nộp cho Đồng, tên quản giáo Bắc Kỳ với đôi môi thâm sì vì thuốc lá và thuốc ký ninh trị sốt rét. Hắn đưa mắt nhìn sơ qua đống tre rồi quát lên “Aaaa, tên này láo nhỉ, kêu anh chặt 10 bó mà anh chặt 11 bó. Anh dốt không hiểu lời chỉ thị của tôi hay anh phản động muốn làm ngược lời quản giáo, phí phạm tài sản quốc gia thế kia hở?” Ông Thông hít 1 hơi dài để kìm lại nỗi uất ức đang trào dâng, nghĩ tới vợ mình khổ sở lặn lội đường xa lên thăm mình, ông ráng nhịn nhục và nhỏ nhẹ nói “ Dạ thưa đồng chí quản giáo, hôm nay tôi chặt dư ra tí để bù lại mấy hôm tôi chặt thiếu, mong anh thông cảm cho!” Tên Đồng lừ lừ cặp mắt vàng khè vì đau gan của hắn, nhổ toẹt một bãi nước bọt rồi khệnh khạng nói “Lần này tôi thay mặt Đảng và nhà nước khoan hồng cho hành động tắc trách của anh đấy nhé, còn tái phạm sẽ kỷ luật nặng, cút về trại ngay!” Ông Thông nuốt hờn đi bộ về trại, niềm vui duy nhất của ông bây giờ là được gặp vợ con ông ngày hôm sau, bởi vậy cho dù bọn quản giáo có nhục mạ ông cỡ nào đi nữa, ông cũng nhịn cho qua. Đã hai tháng rồi còn gì!!!

Vừa thấy vợ, ông Thông đau lòng muốn khóc, người vợ hiền lành, mãnh khảnh của ông bây giờ tóc tai xơ xác, nước da đen đũi, cặp mắt không còn tinh anh như ngày nào mà chỉ còn nỗi sợ hãi, đau đớn chìm sâu trong ánh mắt. Ông nắm tay vợ hỏi “Con đâu em? Em không đem con theo sao?” Bà Thư thút thít “Con yếu quá, nó bịnh hoài, èo oặt quá em không dám đem con theo sợ giữa rừng hoang mà con lên cơn thì không biết sao nên em gửi mẹ của Khanh (mẹ của đứa con nuôi) trông giùm để em đi thăm anh. Ông Thông đau lòng, bóp nhẹ tay vợ, mân mê bàn tay từng chỉ biết gõ máy chữ bây giờ đã chai sần vì cầm cày, cầm cuốc. Ông đảo mắt nhìn quanh hạ giọng “Em đã tìm ra đường dây để đi chưa? Đừng chờ anh, có dịp là đi ngay đi!” Bà Thư nhìn chồng ngậm ngùi lắc đầu “Mối thì có nhiều lắm, nhưng em không thể đi được nếu không có anh. Em và con chờ anh về, mình đi chung! Mình sống chết có nhau anh ạ!” Vừa nói bà vừa lấy đồ ăn cho chồng ăn. Vừa ép chồng ăn bà vừa chuyển hết những đồ thăm nuôi từ túi xách mình qua túi xách của chồng. Bà còn cẩn thận đưa chồng vài cây thuốc lá, dăm cân cà phê với đường để ông hối lộ cho bọn quản giáo. Chồng bà cả đời không hút thuốc, chẳng uống cà phê, một con người rất mẫu mực, hiền lành, chưa từng biết làm hại ai bao giờ, và cũng chẳng biết ăn nói, bởi vậy nếu không có những đồ hối lộ cho bọn quản giáo, bà biết chắc chồng bà sẽ bị hành hạ rất khổ sở.

Hờ hững đưa túi xách cho bọn quản giáo kiểm soát, ông Thông đầu óc miên man suy nghĩ, ông biết vợ mình sẽ nhất định chờ mình về rồi mới cùng vượt biên. Ông không biết cuộc đời của ông sẽ còn bị trong trại cải tạo này bao lâu nữa và càng gần gũi với bọn VC, ông càng thấu hiểu bản chất ác độc và vô nhân của chúng. Bọn quản giáo là những đứa bần cố nông, vô giáo dục, đầu óc bị nhồi nhét với những lý tưởng Karl Marx thần thánh hoá những hoang tưởng. Đầu óc chúng đã bị đầu độc với lý thuyết Cộng Sản mà thật sự chúng cũng chẳng hiểu chúng đang nói gì. Cuộc đời còn lại của ông hoàn toàn tuỳ thuộc vào chúng nó. “Sao thuốc lá nhiều thế này? Đảng và nhà nước lo cho sức khỏe của anh nên cho anh vài gói thôi, còn lại thì đem bỏ hết” vừa cất giọng đạo đức giả, tên quản giáo vừa lục túi xách của ông Thông lấy ra hết mấy cây thuốc và để lại cho ông vài gói xong ngoắc tay cho ông đi vào trại. Ông Thông nhếch mép cười khinh bỉ thằng quản giáo vừa ăn cướp vừa la làng, xách túi xách và đi vào trại.
Ông Thông biết vợ mình sẽ không bao giờ bỏ nước ra đi nếu không có ông đi chung. Ông nằm vật xuống giường, nhìn trừng trừng lên mái nhà tranh, ông biết mình phải có một quyết định để vợ con ông có được một cuộc sống tốt đẹp hơn và thoát khỏi địa ngục trần gian này. Ông phải có một quyết định mặc dù đó có thể là một bi thương cho vợ con ông, nhưng một nỗi bi thương để đưa đến một kết cuộc tốt đẹp hơn. Trong lòng ông bỗng dưng nước mắt chảy dài, thương cho người vợ và đứa con chưa được 1 tuổi của mình.

Bà Thư ngồi tựa vào thành cửa sổ xe đò. Chiếc xe đò lăn bánh trên con đường gập ghềnh về lại Sài Gòn, bây giờ đã bị mang tên một xác người. Bà nhìn những cánh đồng chạy ngược mà đầu óc cứ nghe đâu đây tiếng nói của chồng “Em đừng đợi anh nữa, có cơ hội thì hãy đi đi! Anh không có dịp về ăn bát cơm chung với em nữa đâu! Khi anh ra, anh sẽ đi tìm em!” Bà chợt cảm thấy nỗi đau của một người khi đã mất tất cả, mặc dù tất cả vẫn còn trong tầm tay của mình. Bà nức lên, úp mặt vào cánh tay để những giòng nước mắt tuôn trào như giông bão. Bà Thư ghé nhà bà chị hàng xóm đón đứa con về và lặng lẽ thu xếp nhà cửa, kiên nhẫn chờ ngày chồng mình được tha về.

Bốn tháng sau mẹ con bà Thư đang ở Saigon, một người bạn ghé nhà bà báo tin, ông Thông đã nhảy vào đống lửa đang cháy để tự kết liễu đời mình. Ðang hồ nghi và buồn rầu vì tin buồn, thì chỉ một tháng sau, bà Thông nhận được giấy báo tử từ trại “cải tạo” ghi lý do cái chết của Thiếu Tá Lê Huy Thông là tự tử. Gởi con nhỏ cho người chị hàng xóm, bà Thư đi xe ôm lên Biên Hòa, rồi từ Biên Hòa đón xe đi Phước Long. Từ Phước Long bà mướn một người phụ nữ địa phương dẫn đường, đi bộ 40 km vào xã Ðức Cơ, Bù Gia Mập. Ðến nơi, tên quản giáo trại tù dẫn bà ra một ngôi mộ và cho biết đó là mộ của chồng bà. Ngôi mộ này rõ ràng mới được đắp đất, mà Thiếu Tá Lê Huy Thông chết đã 5 tháng. Hồ nghi và ray rứt về cái chết của chồng, lại ở nơi núi rừng trùng điệp xa lạ, cuối cùng bà phải theo người dẫn đường trở lại Phước Long để về lại Saigon.

Ðại Úy Nguyễn Văn Thạch, người có nhiệm vụ dọn và đốt rẫy và Thiếu Tá Nguyễn Xuân Bích, người có mặt tại hiện trường khi Thiếu Tá Lê Huy Thông nhảy vào lửa, đều may mắn được định cư tại Mỹ theo chương trình HO dành cho người tù “cải tạo” và cả hai hiện nay đều đã trên 80 tuổi, đang sống cùng trong thành phố Westminster. Ðại Úy Nguyễn Văn Thạch sau này cho biết ông không ở chung đội tù với ông Lê Huy Thông, nhưng biết ông Thông vì ở cùng ngành. Phần ông Nguyễn Xuân Bích khi về học khóa Tiếp Vận cao cấp thì gặp ông Lê Huy Thông, lúc đó là giảng viên.

Trong thời gian này, trại tù đang phá rừng đốt rẫy để trồng khoai mì. Nhiệm vụ của ông Thạch gom cây khô về đốt, lấy tro làm phân bón. Toán của ông Thông và ông Bích phải vào rừng đốn tre về làm phên che. Lúc bấy giờ, trời đã trưa, ông Lê Huy Thông, trên tay cầm cây rựa, mệt mỏi và chán nản, khi đi ngang đống lửa đang cháy ngùn ngụt, ông đứng lại tần ngần một lúc, rồi nói với Thạch:“ Nhờ mày nói với vợ tao là “Cho anh xin lỗi vì đã không cùng em đi hết quãng đời. Em đừng chờ anh nữa, hãy đi tìm hạnh phúc cho em và con.” Ngưng 1 giây ông nhìn sâu vào mắt Thạch và nói “Vĩnh biệt mày nghe Thạch! ” Dứt câu, ông Thông nhảy vào hố bom giữa ngọn lửa đang cháy ngất trời. Bọn vệ binh mang súng chạy đến thì đã trễ. Chờ ngọn lửa tắt, xác ông Thông đã cháy cong queo, và sau đó được đem chôn ở đâu đó. Qua thời gian giữa núi rừng mưa gió, bây giờ nấm mộ của ông Lê Huy Thông biết tìm đâu ra nữa.

Sau đó một tháng, không còn gì ràng buộc mình, vào tháng 10, 1977 bà Thư đem cháu Lê Huy Thái, lúc đó mới lên ba, theo gia đình hai người anh trai, xuống tàu vượt biển, được tàu Pháp vớt và theo hai người em trai sang định cư tại thành phố Grenoble, miền Nam nước Pháp. Ðể kiếm việc làm, bà lại phải gửi con cho chị dâu để lên Paris, làm đủ mọi công việc để sống trong thời gian 5 năm, từ làm chả giò, may áo quần, chăm sóc trẻ con hay các ông bà cụ già tại tư gia. Mỗi năm đến mùa Hè bà mới được gặp lại con, khoảng cách giữa Grenoble và Paris là 480 km.

Năm 1983, bà đem con sang quận Cam, California thăm gia đình một người em trai mới đến định cư và quyết định ở lại đây. Trong giai đoạn đầu vì không có giấy tờ đi làm, bà lại phải tiếp tục may vá, coi trẻ hay săn sóc các vị cao niên để có tiền nuôi con ăn học cho đến lúc bà đủ tuổi già để sống nhờ trợ cấp tài chánh và gia cư của chính phủ.

Cháu Lê Huy Thái hiện nay là một cán sự xã hội cho Sở Xã Hội Quận Los Angeles, chưa lập gia đình, thỉnh thoảng mới về thăm mẹ. Bà Thư khi sinh tiền thường dùng xe bus mỗi buổi sáng để đến nhà người em giúp coi sóc nhà cửa, vui với các cháu, tối trở về nhà để kinh kệ. Cuối tuần bà Thư lên chùa làm công quả. Ít con, không có cháu, tuổi già của người cô phụ sau chiến tranh, nơi quê người, không khỏi mang nỗi buồn.

Viết nhân dịp tưởng niệm 42 năm mất nước và để tưởng nhớ Ba Má nuôi Lê Huy Thông và Đỗ Thị Thư.

April 30th, 2017

Phan Khanh

 

Page 1 of 4612...51015...Last »